Nhớ một bài thơ Nguyễn Khuyến

Ngày xuân dặn các con

Nguyễn Khuyến
Tuổi thêm, thêm được tóc râu phờ,
Nay đã năm mươi có lẻ ba.
Sách vở ích gì cho buổi ấy,
Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già.
Xuân về ngày loạn càng lơ láo,
Người gặp khi cùng cũng ngất ngơ.
Lẩn thẩn lấy chi đền tấc bóng,
Sao con đàn hát vẫn say sưa?
(Tác giả tự dịch bài “Xuân nhật thị chư nhi”)

Nhân ngày rảnh rỗi nhớ lại thời làm luận văn tốt nghiệp đại học, đề tài “Tính dân tộc đậm đà trong thơ Nguyễn Khuyến”, cảm cái chất thâm thúy trong thơ Cụ.
Bài thơ Ngày xuân dạy các con là một trong những bài thơ dạy con với tất cả sự nghiêm cẩn của một người cha. Không những thế, đó còn là tâm sự giữa thời loạn của một bậc trưởng thượng trong làng Nho bất lực trước cái đảo điên thế sự. Nguyễn Khuyến là một trường hợp hiếm hoi trong văn học trung đại Việt Nam khi vừa làm thơ chữ Hán, vừa tự dịch sang thơ Nôm. Có thể hiểu với truyền thống của văn chương trung đại coi trọng chữ Hán hơn chữ Nôm, những bài gửi gắm nỗi niềm kín đáo thường được tác giả viết bằng chữ Hán để tăng độ hàm súc trong cấu tứ, ngôn từ. Thế nhưng, khi tự chuyển sang chữ Nôm, có lẽ đó là cách Nguyễn Khuyến muốn cởi mở lòng mình, chia sẻ nỗi niềm bằng tiếng nói mộc mạc giản dị. Một người làm thơ Nôm đường luật xuất thần như Nguyễn Khuyến lại có thể chuyển ngữ sang tiếng ta một cách tinh tế điêu luyện, có những bài chữ Nôm xuất sắc và được nhớ nhiều hơn thơ chữ Hán. Bài thơ này là một minh chứng tiêu biểu.
Khi viết bài thơ này, Nguyễn Khuyến mang theo tâm trạng của một người dứt khoát trở về với nhân dân, nhưng vẫn trĩu nặng ưu tư thời thế:
Bút nghiễn trầm tư ưng hữu lệ
Sơn hà cử mục bất thăng sầu
(Ngẫm đến bút nghiên đáng tràn nước mắt
Ngước nhìn sông núi khôn xiết buồn đau)
Niềm hy vọng của ông gửi vào hậu thế cũng vẫn chưa thoát khỏi khuôn khổ của nhà Nho:học hành – đỗ đạt – làm quan… và luôn giữ mình gắn bó với gốc gác thuần hậu từ làng quê: “Các con nối chí cha nên biết – Nghiên bút đừng quên lúa, đậu, cà”. Còn ở bài thơ này, ông dành để nói về mình nhiều hơn. Phần tiền giải là những tâm sự trĩu nặng buồn đau về thời thế:
Tuổi thêm, thêm được tóc râu phờ,
Nay đã năm mươi có lẻ ba.
Sách vở ích gì cho buổi ấy,
Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già.
Còn gì đau hơn khi cứ nhìn ngày tháng trôi đi, những người đầy tâm huyết như ông đành ngậm ngùi cảm thấy sự già nua bất lực. Theo cách tính thời gian trong bài thơ, cũng có nghĩa là nhà thơ đã về lại vườn Bùi chốn cũ được 5 năm. Tuổi 53, chưa thể gọi là già (dù làng quê của ông bắt đầu làm lễ mừng lên lão cho các cụ khi chạm ngưỡng ngũ tuần!). Bản thân nhà thơ cũng ý thức điều đó chăng, khi ông nói về mình rất ấn tượng, trong hình hài “thêm được tóc râu phờ” – mang nghĩa mệt mỏi, chán chường, bế tắc. Cái phờ phạc hình hài còn gánh thêm cái buồn lo thời thế, đã được gói ghém trọn vẹn trong hai câu thực:
Sách vở ích gì cho buổi ấy
Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già
Mối tương quan giữa nhà thơ – thời cuộc được diễn giải với đầy đủ tính bi kịch của nó! Cái vô nghĩa, giáo điều của đạo Nho đã không còn “ích gì” cho buổi nhiễu nhương. Đó là sự sụp đổ của một tín điều mà cụ Tam Nguyên không thể không cảm thấy cay đắng! Lý tưởng của một thời đại “vua sáng tôi hiền” trở nên tiếng cười mỉa mai chua chát, thành nỗi hổ thẹn. Lập công dương danh mà chi, khi mà “áo xiêm” của thời đại chỉ là thỏa mãn cho lũ người “vinh thân phì gia”, khao khát “lập công dương danh” đã bị những biến cố lịch sử làm đảo lộn. Áo xiêm mà chi, vênh vang mà chi! Người tự trọng như cụ chỉ càng thêm thẹn! Xưa Phạm Ngũ Lão thẹn vì chưa trả được “nợ công danh”, còn giờ cụ Hoàng Và lại thẹn cho chính mình đắm chìm quá sâu trong mớ lùng nhùng “áo xiêm” kia! Cái nỗi thẹn sau 600 năm của kẻ sĩ sao mà khác nhau quá!
Phần hậu giải của bài thơ, nỗi niềm ấy không nguôi mà tạo thành cái nhìn thời thế, nhân thế càng trở nên thảng thốt:
Xuân về ngày loạn càng lơ láo
Người gặp khi cùng cũng ngất ngơ
Cụ thật tài tình khi điểm nhãn hai câu thơ với những từ láy lơ láo, ngất ngơ khó có thể tìm từ nào thay thế hay hơn! Ngụ ý từ đó mà ra, khi dân Nam thời đó mấy ai mà không thuộc vài câu Kiều! Hẳn họ sẽ nhớ ngay tâm trạng Từ Hải : hàng thần lơ láo phận mình ra chi! Đời đã loạn, cố gắng cũng sức cùng lực kiệt khó xoay chuyển tình thế. Ai có lương tri sao mà không khỏi ngất ngơ, bàng hoàng?
Thời loạn, vận suy lắm rồi nên cụ không cao giọng dạy con theo kiểu giáo điều: “Quốc loạn thức trung thần, gia bần tri hiếu tử”, mà chỉ nhắc nhở một cách kín đáo:
Lẩn thẩn lấy chi đền tấc bóng
Sao con đàn hát vẫn say sưa?
Ngỡ như chỉ là mắng con ham chơi hơn ham học, bỏ phí “một tấc thời gian một tấc vàng” nhưng câu cuối khiến ta giật mình nhớ câu thơ Lý Thương Ẩn: Thương nữ bất tri vong quốc hận – Cách giang do xướng Hậu đình hoa. Nguyễn Khuyến đã từ quan, sau này con ông lại ra làm quan, ông lo buồn nhiều hơn vui. Nhắc con không để uổng phí thời gian, không ham mê những thú vui để hoài phí tuổi trẻ, cũng gắn mong muốn duy nhất là con mình chí ít sống có ich, sống tử tế giữa thời nhiễu nhương, vậy cũng là quý lắm rồi!
Đọc lại thơ Nguyễn Khuyến, gọi là một chút ôn cố tri tân, viết vội vài cảm nhận cho khỏi cùn ngòi bút, cũng tự nhắc mình khỏi ân hận mai này “lấy chi đền tấc bóng” vậy!
20/9/2016
T.H.N

Advertisements

Về bến My Lăng…

(Viết nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh cố thi sĩ Yến Lan)
Tôi còn nhớ vẹn nguyên cảm giác khi gặp thi sĩ Yến Lan lần đầu tiên tại Câu lạc bộ Văn học Xuân Diệu, lúc ấy không thể không nhớ đến hình ảnh ông lái đò trong bài thơ để đời BẾN MY LĂNG của ông! Có chút an nhiên đến hững hờ giữa đám trẻ háo hức đọc thơ văn ồn ào, có chút lặng lẽ gần như thu cả vào trong dáng vóc nhỏ thó… Ông thuộc về thế hệ mà chúng tôi ngày ấy “kính nhi viễn chi”, chỉ dám chiêm ngưỡng rụt rè mà không dám bỗ bã mở miệng, chỉ nghe ông kể chuyện và ngắm ông, hình dung về ông lái đò mà ông đã tạc lên sống động trong dòng thơ lãng mạn. Hóa ra, thơ vận vào người, nên ông dường như mang thần thái nhân vật của mình, dẫu cho ông cuối đời sống nơi ồn ào phố chợ thị trấn Bình Định! Chẳng phải thế sao, khi những hối hả bon chen bên ngoài không tác động mấy vào dòng cảm xúc của ông, và ông đọc sách, làm thơ, trở về với dòng tứ tuyệt Đường luật cổ kính, mà vẫn đầy mỹ cảm “Cầm chân em – Cầm chân hoa” …
Trở lại với BẾN MY LĂNG, cái bến sông tưởng tượng làm tốn giấy mực của bao thế hệ các nhà phê bình văn học, tôi chợt nhận ra bài thơ này dường như không thích hợp cho lối cảm thụ kinh viện, mà phải để hồn thật bay bổng, thật trong trẻo mới tái hiện được cái không gian bàng bạc ánh trăng đậm chất xứ Đồ Bàn:
Bến My Lăng nằm không thuyền đợi khách
Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu
Trăng thì đầy, rơi vàng trên mặt sách
Ông lái buồn, để gió lén mơn râu…
Ông không muốn run người ra tiếng địch
Chở mãi hồn lên tắm bến trăng cao
Vì đìu hiu, đìu hiu, trời tĩnh mịch
Trời võ vàng, trời thiếu những vì sao…
Hai khổ thơ đã tạo một không gian đậm chất lãng mạn và thoát tục: bến – thuyền, ông lão – vầng trăng, tất cả đều im lìm tĩnh mịch, phảng phất chất Đường thi phần nào gợi nhớ bến Tầm Dương trong thơ Bạch Cư Dị: “Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt – Một vầng trăng trong vắt lòng sông…” nhưng lại không phải như vậy!
Tâm thế lãng mạn in đậm nét hơn khi cái tĩnh lặng mang đến sự cô đơn tuyệt đối, gợi cảm giác trống vắng lan tỏa ngui ngút bao trùm vẻ huyền ảo dưới ánh trăng. Cùng lúc ùa vào một chút lạnh se cô quạnh của bến “nằm không thuyền đợi khách”, một chút tàn phai của “trăng rơi”, bầu trời “đìu hiu, tĩnh mịch, võ vàng” quyện vào thành nỗi buồn đọng lại trong lòng ông lái đò kia. Không biết giữa tứ thơ này của Yến Lan và Hàn Mặc Tử – hai người bạn trong “Bàn thành tứ hữu” và cũng là hai nhà thơ trong “trường thơ Loạn” – có mối liên hệ gì không, khi tôi chợt nhớ câu thơ của Hàn:
Người hóa ra trăng, trăng hóa nước
Lụa là ướt đẫm cả trăng thâu…
Cảnh và người trong hai khổ thơ này của Yến Lan cũng thế! Ông lái đò trong khoảnh khắc “để gió lén mơn râu” cũng là lúc đã muốn tan hòa bay bổng theo cơn gió nhẹ kia lên tận cung Quảng Hàn! Cái buồn của cảnh xâm nhập vào hồn người, khiến cho công việc “đợi khách” của ông lái đò chẳng qua chỉ là cái cớ mà thôi!
Khổ thứ ba hiện lên là một không gian và thời gian của cảm giác:
Trôi quanh thuyền, những lá vàng quá lạnh
Tơ vương trời nhưng chỉ giãi trăng, trăng…
Chiều ngui ngút dài trôi về nẻo quạnh
Để đêm buồn vây phủ bến My Lăng…
Bắt đầu từ không gian này, mọi hiện hữu dường như là ảo ảnh, giao hòa cảm xúc với ngoại cảnh, ánh trăng dệt thành đường tơ, nối kết cảm giác ngui ngút của chiều quạnh, cái mênh mông rợn ngợp của đêm buồn… Không gian ấy ta từng gặp trong thơ Xuân Diệu: Sương nương theo trăng ngừng lưng trời – Tương tư nâng lòng lên chơi vơi (Nhị hồ). Không gian trăng của Yến Lan không có cái réo rắt của âm nhạc, mà vẫn cứ ngân nga một âm vọng thẳm sâu chính từ hình ảnh Tơ vương tròi nhưng chỉ giãi trăng, trăng…Để từ đó xuất hiện một bóng hình lữ khách:
Nhưng đêm kia đến một chàng kị mã
Nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly
Chàng gọi đò, gọi đò như hối hả
Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi…
Tiếng gọi đò phá vỡ cái tĩnh lặng của bến sông Trăng – bến My Lăng có thật không? Chàng kị mã – áo ngọc lưu ly và ánh trăng vàng như quyện vào nhau làm ta hình dung chàng như bước ra từ cõi mộng, từ cổ tích hay phảng phất một dáng chinh phu đầy ám ảnh các nhà thơ thời “tiền chiến” như Lưu Trọng Lư, Thế Lữ từng nhắc tới. Nhưng ở thơ Yến Lan, tiếng “gọi đò, gọi đò như hối hả” mới thật sự là một ám ảnh, để chuyển hóa chất thơ từ lãng mạn sang tượng trưng:
Ông lão vẫn say trăng, đầu gối sách
Để thuyền hồn bơi khỏi bến My Lăng
Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách
Gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng…
Tôi đã từng đọc hồi ức nhà thơ kể về tuổi thơ bên bến sông Trường Thi quê nhà với ông cậu làm nghề chèo đò, một hồi ức buồn với nỗi đau của đứa bé mất đi người mẹ hiền hậu tảo tần. Phải chăng vì thế tiếng “gọi đò như oán trách, gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng” trong bài thơ như dư vang của cảm giác hụt hẫng bàng hoàng thời thơ ấu? Thực và mộng cứ đan xen trong ánh trăng ma mị, thoát tục tuyệt đối khi ông lão “để thuyền hồn bơi khỏi bến My Lăng” để hòa vào những sợi tơ trăng. Nỗi niềm nào đọng lại trong điệp khúc gọi đò, không thể kéo thuyền hồn trở về cùng bến My Lăng, trở về thực tại?
Bài thơ khép lại bằng một hình ảnh đậm chất cổ điển:
Bến My Lăng còn lạnh, bến My Lăng
Ông lái buồn đợi khách suốt bao trăng…
Không hiểu sao khi đọc hai câu thơ này, tôi lại mường tượng ra không gian của những ngôi nhà lá mái đặc trưng của Bình Định, bước vào trong những cánh cửa “bàn pha” theo cách nói của dân xứ Nẫu, người ta thường gặp những bức sơn mài trên vách theo chủ đề “ngư tiều canh mục”. Bức sơn mài có con thuyền chống sào, ngư ông say ngủ thường có đôi câu thơ chữ Hán rất điển hình trong những nhà có người theo đuổi nghiệp bút nghiên khoa cử thời phong kiến, muốn lánh xa cái ồn ào của thế nhân, như lời thơ Cao Bá Quát:
Thế sự thăng trầm quân mạc vấn
Yên ba thâm xứ hữu ngư châu.
( Thế cuộc thăng trầm người chớ hỏi, Miền sâu khói sóng có làng câu. )
(Tiêu sầu tửu 2)
Có mối liên hệ nào không giữa người cậu lái đò bến Trường Thi – ông lái đò say trăng bến My Lăng và thuyền câu khói sóng trong những bức sơn mài của một thời xưa cũ? Chỉ biết rằng hai câu thơ khép lại BẾN MY LĂNG cũng đã gieo lại trong lòng người yêu thơ một nỗi buồn lan tỏa cùng ánh trăng lạnh, tạc nên hình ảnh bất tử của một bến My Lăng hư ảo thấm đẫm tâm trạng.
Và cũng thật bất chợt, tôi tự hỏi: không biết bây giờ, anh hồn của thi sĩ đang vương vấn cùng ánh trăng bàng bạc, có trở về thăm lại bến Trường Thi, thuyền hồn ông lái đò neo đậu nơi nào ở bến My Lăng?
28.2.2016
T.H.N

Ngẫm thêm về Chí Phèo

Khi tiếp cận truyện “Chí Phèo” của Nam Cao, lâu nay trong nhà trường thường chỉ tập trung vào giá trị nhân đạo của truyện ngắn này,với bi kịch bị tước đoạt nhân tính lẫn nhân hình, bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Đứng từ quan điểm đấu tranh giai cấp, xem xét tính điển hình hóa của nhân vật trong bối cảnh xã hội Việt Nam thời thực dân nửa phong kiến, để rồi cuối cùng kết luận nghiêng về phê phán tố cáo xã hội – lên án bà cô Thị Nở, đại diện cho thành kiến xã hội và tố cáo Bá Kiến – đại diện tầng lớp cường hào ác bá ở nông thôn trước cách mạng, bênh vực cho người nông dân bị bần cùng hóa và lưu manh hóa, cổ vũ khuyến khích tinh thần tức nước vỡ bờ và khát khao hướng thiện của con người… Cách tiếp cận ấy mới chỉ là một phía, chưa toàn diện bức thông điệp mà Nam Cao muốn gửi gắm.
Thực tế, tác phẩm của Nam Cao có một cách tiếp cận khác, phong phú hơn, đa dạng hơn, không chỉ dừng lại ở tiếp cận nhân vật loại hình mà nhân dân đã nhận ra giá trị vượt thời gian, không gò trong khuôn hình xã hội nhất định. Người ta nói đến “tính cách Chí Phèo” ở những kẻ lưu manh chuyên phá làng phá xóm, phá hoại sự yên bình của cộng đồng, quấy rối cuộc sống những người lương thiện. Người ta cũng có những câu truyền miệng dân gian, nâng nhân vật của Nam Cao lên một tiêu chí đánh giá đẹp – xấu, như: “Trông xa thì tưởng Thúy Kiều – Lại gần thì hóa người yêu Chí Phèo”. Cách tiếp cận ngoài định hướng đem lại nhiều khám phá nhưng dường như chưa được nói đến nhiều trong nhà trường. Và như vậy, trong nhà trường, tác phẩm đã bị hạ thấp một phần giá trị nhân sinh, tầm nhân loại…
Cách tiếp cận này đã dẫn đến sự ra đời của những tác phẩm phái sinh từ Chí Phèo của Nam Cao, chẳng hạn như bài thơ độc đáo “Nỗi niềm Thị Nở” của nhà thơ Quang Huy:
Người ta cứ bảo dở hơi
Chấp chi miệng thế lắm lời thị phi
Dở hơi nào dở hơi gì
Váy em xắn lệch nhiều khi cũng tình
Làng này khối kẻ sợ anh
Rượu be với chiếc mảnh sành cầm tay
Sợ anh chửi đổng suốt ngày
Chỉ mình em biết anh say rất hiền
Anh không nhà cửa bạc tiền
Không ưa luồn cúi không yên phận nghèo
Cái tên mơ mộng Chí Phèo
Làm em đứt ruột mấy chiều bờ ao
Quần anh ống thấp ống cao
Làm em hồn vía nao nao đêm ngày
Khen cho con Tạo khéo tay
Nồi này thì úp vung này chứ sao
Đêm nay trời ở rất cao
Sương thì đẫm quá trăng sao lại nhoà
Người ta mặc kệ người ta
Chỉ em rất thật đàn bà với anh
Thôi rồi đắt lắm tiết trinh
Hồn em nhập bát cháo hành nghìn năm
Thực ra, cách tiếp cận của Quang Huy vẫn rất gần gũi, khi phát hiện vẻ đẹp của nhân vật Thị Nở, sản phẩm của lòng nhân đạo Nam Cao, khi tạo ra người đàn bà “dở hơi” sánh với ông chỉ có một nghề “đập đầu, rạch mặt ăn vạ”. Quang Huy nhìn thấy cuộc gặp gỡ của “con vật ghê tởm nhất” và “con quỷ dữ của làng Vũ Đại” đích thực là cuộc gặp của hai con người, có phần thi vị hóa Thị Nở và gán cho nhân vật này những suy nghĩ cảm xúc vượt ra khỏi mẫu hình mà Nam Cao dựng nên. Còn nhà thơ Lê Minh Quốc lại tìm thấy trong “Chí Phèo” một tri âm tri kỉ của văn nhân thi sĩ, trong bài thơ “Thư gửi Chí Phèo”:
Đêm nay uống rượu với vầng trăng
Ta chợt nhớ trái tim mình đơn độc
Như vó ngựa bốn mùa reo lốc cốc
Ôi ta đau khi nhớ gã Chí Phèo
Thị Nở đâu rồi để chăn chiếu mốc meo
Gió lùa vào căn phòng ta nghiệt ngã
Đốt bản thảo thơ sưởi lòng đêm lạnh giá
Ngọn lửa này có nấu chín nồi cơm?
Chí Phèo ơi, ta muôn thuở biết ơn
Cái đói của anh – thời quay quắt đói
Cái ngang tàng dám cầm dao rạch mặt
Của chính anh – khi đi giữa chợ đời
Uống rượu say không gọi: Thế nhân ơi
Ta khật khưỡng chỉ gọi: – Ơi Thị Nở
Bát cháo hành suốt đời ta mắc nợ
Còn bập bềnh trôi nổi giữa vần thơ…
Ơi gã Chí Phèo của cổ-tích-hôm-qua
Ngang ngược nói, cười, chửi trời, chửi đất
Cái đói eo sèo, cái buồn mửa mật
Trăng cũng xanh xao lay lắt cuộc đời thừa
Rượu uống say rồi sao ta lại chưa bưa
Như Chí Phèo đòi làm người Lương Thiện?
Ta chỉ cần Công Bằng mà vần thơ đau điếng
Lời vừa buông ra là máu bật bờ môi
Rượu uống say rồi ta gọi Chí Phèo ơi
Nếu sống giữa ngày này thì anh sẽ sống
Như kẻ thất thời? Như người lỡ vận
Như gã làm thơ viết bằng máu của mình?
1988
Bài thơ viết trong bối cảnh xã hội Việt Nam đổi mới, có nhiều trăn trở trước những giá trị xã hội đảo lộn, thể hiên khao khát một lẽ Công Bằng, một cách “mượn” nhân vật để tự bạch. Nhưng cách tiếp cận này cũng vẫn nằm trong một mạch thế sự nhân sinh của văn học sau đổi mới, một cách “làm mới” nhân vật của Nam Cao bằng cách vận vào theo kiểu Nguyễn Du đồng cảm với Tiểu Thanh thuở xưa!
Người đầu tiên tiếp cận Chí Phèo của Nam Cao như một kiểu người, mẫu người sống dai dẳng vượt qua khuôn khổ xã hội cũ có lẽ là Nguyễn Minh Châu, “người mở đường tinh anh” của văn học Việt Nam hiện đại. Tác phẩm chân dung văn học “Nam Cao” của ông đã vẽ lại một Chí Phèo đi lính cho Tây, vẫn nguyên bộ dạng lưu manh, có thêm vũ khí là khẩu súng trong tay. Chính loại Chí Phèo ấy đã hạ sát Nam Cao. Nguyễn Minh Châu đã đưa ra một cảnh báo về sự tồn tại của cái xấu cái ác vẫn dai dẳng, vượt quá những mong muốn về hành trình hướng thiện mà sinh thời Nam Cao từng xây dựng nên. Điều này cũng rất chính xác với cảnh báo của Nam Cao trong phần vĩ thanh của tác phẩm: “tre già măng mọc…” trong lời dân làng Vũ Đại và biểu tượng về sự trở lại của “cái lò gạch cũ”!
Từ cách tiếp cận này của Nguyễn Minh Châu, nên chăng trong quá trình giảng dạy, chúng ta cần tập trung nhiều hơn vào quá trình tha hóa của Chí Phèo. Không chỉ phân tích theo hướng “con người là sản phẩm của xã hội” để đi đến kết luận sự tha hóa của Chí là do cơn ghen Bá Kiến – nhà tù thực dân – làng Vũ Đại với thế “quần ngư tranh thực”… một cách đơn giản. Cũng không thể đổ thừa mọt cách ngây thơ là rượu đã hủy hoại lý trí và cảm xúc của Chí. Bởi trong thực tế cuộc sống, chúng ta thấy có nhiều kẻ không uống rượu nhưng hành xử đúng là “Chí Phèo hiện đại”. Nam Cao đã phát hiện ra quy luật tha hóa nằm trong sự tự nhận thức của Chí: lần đầu đối mặt với cường quyền, Chí bị đưa vào thiên la địa võng, mê hồn trận của Bá Kiến để rồi sau đó cầm trên tay 1 đồng cơm thuốc, tự cảm nhận mình “oai hơn một bậc”; sau đó, khi được dẫn dụ đòi nợ đội Tảo và bất ngờ thành công, Chí vênh vang tự đắc “anh hùng làng này cóc thằng nào bằng ta”! Đó là tiền đề cho sự tha hóa được báo trước như một tất yếu. Chả khác nào những Chí Phèo đời nay là mấy! Chí của Nam Cao là một nhân vật đa nhân cách, hạn chế về nhận thức dẫn đến bước trượt dài, bị lợi dụng, bị sai khiến nhưng ngay cả khi lương tâm thức tỉnh, Chí vẫn bị dẫn dụ bởi động cơ trả thù kiểu lưu manh. Ý định “đâm chết cả nhà con đĩ Nở, đâm chết con khọm già nhà nó” chuyển hóa thành hành động vung dao lên hạ sát Bá Kiến và tự sát vẫn là một hành xử đúng chất Chí Phèo. Kết cục chả giải quyết được gì ngoài sự mất mát trắng tay! Tất nhiên, Chí của Nam Cao không thể có lựa chọn khác, nhưng dường như trong đời sống hiện đại, nhiều kẻ không say sưa như Chí, bằng cấp cũng tầm đại học, nhưng vẫn để cho những toan tính uất ức cá nhân làm cho lu mờ lý trí, hành xử chẳng khác Chí Phèo. Có điều, Chí Phèo tự phát theo kiểu “người nông dân nổi giận”, còn hậu duệ của Chí thì lại có học hơn, tâm địa mưu mô lại tiếp thu từ “cụ Bá Kiến”, nên gian manh khó lường! Người đọc có thể tiếc cho 5 ngày làm người của Chí Phèo – Thị Nở trong truyện Nam Cao, nhưng liệu Thị Nở không dở hơi nhảy đổng lên “trút nguyên vẹn lời bà cô vào mặt Chí Phèo” như đổ dầu vào lửa, liệu cuộc đời Chí Phèo có khác?
2015
T.H.N

Tiếp tục đọc

ĐỌC NHẬT KÍ NỮ NHÀ BÁO CHIẾN TRƯỜNG

  • ĐỌC NHẬT KÍ NỮ NHÀ BÁO CHIẾN TRƯỜNG CỦA NHÀ BÁO – NHÀ THƠ LỆ THU
            1975 – 2015 , thấm thoắt đã 40 năm đất nước thống nhất! Những ngày này, nhiều địa phương, đơn vị tổ chức Lễ hội mừng chiến thắng, mừng ngày giải phóng, mừng ngày đoàn tụ… Nhưng có bao người cảm thấy ngại ngần khi nhắc đến những từ ngữ gợi lại kí ức đau thương của dân tộc, khơi lại hận thù giữa những người hai bên chiến tuyến… Quả thật, những vết thương lịch sử đôi khi làm người ta không cảm thấy mấy dễ chịu khi nhắc lại.

            Quyển Nhật ký nữ nhà báo chiến trường (NXB Quân đội Nhân dân, 2015) của nhà báo – nhà thơ Lệ Thu đã ra mắt đúng vào dịp này, để cho bao người trong cuộc cùng sống lại những kí ức chiến tranh, và những người thuộc thế hệ chúng tôi, những lớp con cháu hiểu hơn về một sự thật qua góc nhìn của một cá nhân, như chị đã gửi gắm trong Lời cuối sách: “Cuốn nhật ký này tôi đã cất giữ 40 năm nay, nghĩ nó chỉ là những kỷ niệm buồn vui của riêng mình. Nhưng giờ đây,bỗng nhiên tôi muốn nó được đến với mọi người, để những sự tích anh hùng của những trái tim đau thương, những tâm hồn cao cả ấy được lấp lánh giữa cuộc đời, được sống mãi với thời gian, không bị ai lãng quên, không bị ai làm hoen ố!”

10.8.1973 – 1.5.1975 là mốc thời gian bắt đầu và kết thúc Nhật kí của nữ nhà báo chiến trường Lệ Thu, hơn 300 trang sách, thấm đẫm những kí ức chiến tranh trên mảnh đất miền Trung – chủ yếu là “với quê hương Bình Định”  (từ 1.1.1974 đến 28.4.1975, 485 ngày với 240 trang sách), sau thời gian hiệp định Paris đã được kí kết. Hành trình đến ngày thống nhất hé lộ những số phận, những cuộc đời trong mạch cảm xúc rất riêng tư của một người mẹ vì nhiệm vụ phải bỏ lại con thơ, từ giã gia đình để gánh trên vai trách nhiệm của một nhà báo chiến trường – một người chiến sĩ đối mặt từng phút từng giây với bom đạn, đặt con người vào ranh giới sự sống và cái chết, can đảm và hèn nhát, trong những ngày tháng sục sôi khí thế giải phóng miền Nam… Chị đã thật sự tham dự vào cuộc chiến tranh khốc liệt với tất cả ý thức công dân, hơn thế còn là tình cảm của đứa con khao khát trở về chiến đấu trên đất mẹ sau gần 20 năm trời xa cách.

Từ những trang đầu tiên viết về thời điểm nhận lệnh “đi B” mang theo nỗi quặn thắt riêng tư của người mẹ phải xa con, nối mạch là những ngày tháng hiện lên bộn bề sự kiện, ai đã bắt mạch khó có thể dứt ra những dòng nhật ký ấy đến tận trang cuối cùng… Đúng nghĩa là Nhật ký – rất riêng tư những nỗi niềm trong công việc, trong mọi mối quan hệ. Một chân dung Lệ Thu – nữ nhà báo chiến trường cũng hiện lên rõ nét từ nhiều góc độ khác nhau: nhà báo – nhà thơ – người cán bộ cách mạng; người mẹ – người vợ – người chị – người em – người con – người cháu… Đọc mà cảm xúc như muốn hòa vào từng khoảnh khắc nghẹt thở của cuộc chiến, như chứng kiến tâm tư của một người dám dấn thân dám thử thách, từng chi tiết cứ hiện lên qua những câu chuyện. Nhưng không chỉ có vậy, đằng sau cái nhìn ấy là bản lĩnh của một nhà báo chiến trường thực thụ, ghi lại những thời khắc lịch sử bi hùng khi cuộc chiến tranh Việt Nam đi vào hồi kết, vẫn nóng hổi chất ký sự về những vùng đất, những con người tác giả đã trực tiếp cùng sống, cùng chiến đấu. Với mảnh đất Bình Định, đây cũng chính là những trang tư liệu sống về thế trận chiến tranh nhân dân, không chỉ với những sự tích anh hùng, những chiến công mà còn cả bao đau thương, mất mát, máu và nước mắt…

* *

*

            Nhật ký chiến trường của một nữ nhà báo, cũng là hành trình thử thách lòng tin, bản lĩnh của người phụ nữ vượt qua những ảo tưởng, những mơ mộng để đối mặt với thực tế khắc nghiệt. Cái lớ ngớ hồn nhiên buổi đầu của một nhà báo chân ướt chân ráo vào chiến trường, bị ghẹo bằng những câu nói lái siêu đẳng của dân khu V được chị ghi lại như một kỷ niệm vui về “những trận cười sảng khoái , làm cho người ta quên bớt những cực nhọc gian nguy”. Năm tháng sau, trong vai “Hội trưởng phụ nữ giải phóng” chị đã khiến nhà báo Mỹ giỏi lái tiếng Việt phải đầu hàng vì chịu thua câu lái vừa chính trị vừa hài hước “cắng xải dâu tí xìn”!Quý biết bao những nụ cười lạc quan trong hoàn cảnh đạn bom ngày càng ác liệt! Chị cũng không ngại ngần kể về nỗi “khó ở” của người phụ nữ trên đường đi công tác để cảm nhận: “Thân phận người phụ nữ ở chiến trường thật khốn khổ đủ bề!”. Những chuyện nhỏ nhặt, tế nhị như vậy đưa vào trang nhật ký không hề phản cảm mà lại làm cho chất nữ tính càng rõ nét! Người phụ nữ ấy đã sống và viết ở những nơi giao tranh quyết liệt nhất: Đồi Mười, Núi Bà, Khu Đông… Đã đi khắp các chiến trường Bình Định: An Lão, Hoài Nhơn, Hoài Ân, Phù Mỹ, Phù Cát… và tất nhiên là không thể thiếu những ngày bám trụ, nằm hầm, vượt đường về với quê hương Tuy Phước ruột thịt!

            Cũng bởi chị vào chiến trường với nguyên vẹn sự xúc động của một hồn thơ nữ, nên trang nhật ký có rất nhiều thơ, rất nhiều bài đã làm nên tên tuổi nhà thơ Lệ Thu nổi tiếng sau này! Tôi nghĩ,  làm thơ chính là lúc chị được sống trong nỗi xúc động của phút giây phải xa con, vì bao sự tích bao câu chuyện về đồng chí đồng đội, trong đó có cả những người thân yêu ruột thịt. Những bài thơ luôn ám ảnh sự mất – còn, là cách hình dung số phận con người trong cuộc chiến, có cả những bài thơ ra đời như chuẩn bị cho chính mình đường hoàng giáp mặt cái chết, với “Lời thương gửi lại”:

            Và mỗi ngày đều rực rỡ bình minh

            Và mơ ước sẽ thành sự thật

            Trong chiến đấu sự hy sinh, còn, mất

Là đương nhiên, là lẽ thường tình…

Thơ ấy trong veo một màu sắc lý tưởng thời đại, trong ngần tình quê hương đồng đội, một niềm tin tất thắng! Thế nhưng cũng có lúc những bài thơ trong phác thảo phải bỏ dở giữa chừng, trong nỗi xót xa đến bàng hoàng khi đối diện sự thật, trong một ray rứt vì những cuộc sống nhếch nhác, những đứa trẻ hư ở trong những gia đình nghèo vùng giải phóng, mơ hồ dự cảm tương lai đầy gian khó sau khi chấm dứt chiến tranh…

            Nhật ký chiến trường của một nhà báo, nên đầy ắp thông tin trong những lần chị bám đất bám dân ở những vùng giáp ranh, hàng trăm gương mặt lướt qua nhưng cũng có những chân dung phác họa con người của lịch sử đã đọng lại, có khi chỉ là một vài dòng nhưng cũng có những câu chuyện những gương mặt trở đi trở lại. Có ai đã từng nói: chiến tranh không mang gương mặt phụ nữ! Thế nhưng những gương mặt phụ nữ trong chiến tranh qua nhật ký này cứ lần lượt hiện lên làm người đọc nhận diện hết mức độ tàn khốc của sự hủy diệt, cảm nhận được những mất mát mà những người đàn bà khu V này phải gánh chịu. Đau đáu nhất là gương mặt của Má, người phụ nữ vĩ đại mà gần gũi của cuộc đời chị. Và còn bao bà má Bình Định gánh nỗi đau người thân hy sinh yêu thương chị như con ruột, những người chị – người đồng chí với sự trớ trêu định mệnh do hoàn cảnh chiến tranh, những người bạn, người em gái thân thương mà đã làm nên bao kì tích bao chiến công…  Tất cả lại được cảm nhận, thẩm thấu qua cái nhìn, trái tim của một nữ nhà báo, bằng sự chia sẻ cảm thông và lòng trân trọng biết ơn, có cả những ngậm ngùi đồng điệu. Tôi cảm nhận thêm một điều về các gương mặt phụ nữ đi qua chiến tranh trong trang viết của Lệ Thu: hầu hết đều đẹp, đều đáng yêu và có một nét kiêu hãnh theo một cách khác nhau, được chị yêu quý bằng tất cả sự chân thành trong suy nghĩ và cảm xúc.

            Ký ức chiến tranh với Lệ Thu còn là những khoảnh khắc lạnh mình không phải ở lằn ranh của sự sống – cái chết, thế giằng co của ta và địch, mà lại diễn ra trong những phút riêng tư, trong nỗi đau niềm tin bị phản bội, trong nỗi uất ức không thể biện minh. Những sự thật ấy thật hiếm hoi trong các nhật ký chiến tranh tôi từng đọc. Đó cũng là thái độ trung thực đến tận cùng gắn với phẩm chất của một nhà báo. Mới hay, chính thực tế chiến trường giúp con người tỉnh táo hơn, bản lĩnh hơn khi đối mặt những điều không hề dễ chấp nhận, để chiêm nghiệm sâu hơn cuộc sống. Ngay từ những ngày còn ở cứ, chị đã cảm nhận và khao khát được đi “thực tế” xuống các địa phương, bởi: “Ở dưới đó mới có cuộc sống sôi động, mới có không khí chiến đấu, chứ cứ ở mãi trên rừng núi này thì có thể giảm được phần nào nguy cơ cái chết thể xác, nhưng sẽ chết dần về tâm hồn và tiêu tan cả mục đích cao đẹp ban đầu của mọi người.” (Nhật ký ngày 13.11.1973). Suy nghĩ ấy có nét đặc trưng  tinh thần Pa-ven Coocsaghin của Thép đã tôi thế đấy từng ảnh hưởng lớn đến thế hệ thanh niên thời đó. Quả thật, thực tế là nơi giúp chị được sống những năm tháng ý nghĩa nhất của đời mình, hừng hực lý tưởng, quyết tâm khi hòa mình với cả một tập thể nhân dân kiên cường không ngại hy sinh gian khó, vượt lên mất mát đau thương.

Tôi đặc biệt chú ý những ghi chép của chị khi về quê hương Tuy Phước, một phần vì đó cũng là quê tôi, nhưng phần quan trọng hơn là tôi cảm nhận được nhiều nhất chân dung tác giả – đứa con xa quê trở về đã trải nghiệm tất cả cảm xúc trong những ngày sống và chiến đấu trên chính quê hương mình! Những tiểu mục nối nhau làm thành những thước phim cận cảnh về những ngày bám đất bám dân, sống với đồng chí đồng đội, với những người thân yêu ruột thịt, thấm đẫm tình người tình quê: Gian truân Tuy Phước – Sống cùng huyện đội – Về quê nội – Ngày gặp má… rồi là những ngày lao theo công việc hối hả trong từng chiến dịch trên khắp chiến trường Bình Định, chị lại tiếp tục về quê hương trong Chiến dịch mùa Xuân năm 1975, chứng kiến và phản ánh không khí sục sôi trong cuộc chiến đấu cuối cùng giải phóng quê hương. Những ngã rẽ cuộc đời, những đổi thay nhận thức và cả trăn trở, hụt hẫng đều được tái hiện vẹn nguyên. Từ một Bí thư Huyện ủy trong buổi đầu “gian truân Tuy Phước” đã để lại cho chị cảm tình đặc biệt “về tính nết : nồng hậu, vui vẻ, điềm đạm và chín chắn” (NK 24.4.1974) thì chỉ hơn 7 tháng sau chị đã phải ghi vào trang nhật ký “Những ngày buồn”: “30.11.1974 – Cùng một lúc mình nhận được hai cái tin sét đánh: Bí thư Huyện ủy đã “chiêu hồi” và Má mình đã bị bắt!”. Vâng, cái giá quá đắt của niềm tin ngây thơ vào một kẻ đốn mạt, không ngần ngại kể mọi bí mật cho “bí thư của huyện quê mình!”. Tôi đã thắt lòng khi đọc những dòng thảng thốt và đau đớn đến tưởng chừng kiệt sức của chị:

Lâu nay mình vẫn băng băng trên đường viết bài. Vạn dặm đường dài gian khổ đã đi qua – bao nhiêu núi, bao nhiều đèo, bao nhiêu sông, bao nhiêu suối! Tám lần vượt đường và trải qua bao trận pháo bom…Nhưng chẳng hãi hùng bằng khi nghe cái tin không thể nào tin nổi này!

Những năm tháng nhớ nhất cuộc đời ta…Cái chết và cái sống, niềm yêu thương và nỗi căm giận tột cùng, đắng cay, chua xót của thời gian, năm tháng, cuộc đời, vinh quang, và thử thách”.

Dường như những trải nghiệm dữ dội ấy khiến chị lao vào công việc mạnh mẽ hơn, kiên cường hơn, và trân trọng hơn trong những trang nhật ký viết về đồng chí đồng đội, vực dậy niềm tin từ chính những con người quê hương kiên trung: những câu chuyện về cậu Lưu, em Lý – những người bà con được chị yêu thương như ruột thịt, bất khuất trước kẻ thù, sống anh dũng chết vẻ vang; những câu chuyện về đồng đội đồng chí giản dị và đầy xúc động : một Ủy viên Thường vụ huyện Nguyễn Tấn Tài từng nhận nhiệm vụ cách mạng xâm nhập vào giới hảo hán giang hồ, một chị Sỏi người yêu hy sinh đã yêu thương những con em liệt sĩ như con đẻ, câu chuyện về “tình yêu của người du kích” – cô gái tên Phước khiến chúng ta rưng rưng… Tôi nghĩ những câu chuyện thắm đượm ân tình ấy là nguồn sức mạnh cho nữ nhà báo chiến trường Lệ Thu, thêm tin yêu mảnh đất và con người quê hương, thêm nghị lực vượt qua những nỗi buồn riêng tư, mạnh mẽ hơn trước những kẻ cơ hội, những thói đố kị, vượt lên những toan tính tầm thường. Ở nữ nhà báo chiến trường Lệ Thu, tôi nhận ra một con người dẫu có nhiều trăn trở riêng – chung nhưng biết đặt trọn tình yêu vào những con người biết hy sinh để cống hiến cho quê hương đất nước.

* *

*

Phải chăng đó là chất thơ của cuộc chiến đấu anh dũng, chất thơ được tạo nên từ những con người nhân dân bình dị? Để sau cuộc chiến, hiện thực ấy thôi thúc chị trở thành nhà thơ trong những cảm hứng ngợi ca Xứ sở loài chim yến, viết lời Tri âm của Đất…? Viết như một người mắc nợ quê hương, sống tiếp quãng đời bao vui buồn xúc động với con người Bình Định. Viết như một cách khẳng định chất Bình Định khí khái vươn tới với những phẩm chất “vàng mười” sau khi đã qua lò lửa chiến tranh. Đó cũng là lý do vì sao sau này đọc thơ Lệ Thu, luôn cảm nhận được ở chị một thái độ điềm đạm mà không kém phần quyết liệt, rạch ròi yêu ghét!

                                                                        4/2015

                                                                        T.H.N

MẸ VÀ CON TRONG THƠ LỆ THU

(Đọc tuyển tập thơ ĐIỀM ĐẠM VIỆT NAM)

  • Trần Hà Nam

Nếu tính mốc thời gian từ năm 1964, khi nhà thơ Lệ Thu bắt đầu làm phóng viên Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam, đến nay tuyển tập thơ Điềm đạm Việt Nam của chị ra mắt cũng đã gói ghém trọn vẹn 50 năm cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, cho dân tộc. Chị thuộc về thế hệ của các nhà thơ trẻ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, cùng thời với các tên tuổi đã được đưa vào sách giáo khoa phổ thông như Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật… Sự nghiệp thơ bền bỉ suốt nửa thế kỉ ấy đáng tự hào vì không đơn giản chỉ là sáng tác mà nhà thơ đã sống trọn vẹn với tâm niệm của một người nguyện làm con tằm rút ruột nhả tơ cho đời:

Tôi xin làm một con tằm

suốt đời rút ruột, chết nằm trong tơ

Nguyện không làm chiếc gương mờ

trưng nơi trang trọng dối lừa người soi

                        (Nguyện – 1978)

Nhìn lại cả một hành trình thơ Lệ Thu, sắp xếp trong tuyển tập thành năm phần với 267 bài thơ tuyển cùng 12 chương trong Trường ca quê hương, người đọc có thể cảm nhận khá đầy đủ chân dung thi sĩ cũng như những đặc trưng thi pháp qua những bài tâm đắc nhất của một đời thơ. Tôi không có tham vọng làm lại công việc của các nhà phê bình để xác định vị trí, vai trò của chị trên thi đàn dân tộc, vì chị đã là một tên tuổi được khẳng định từ lâu. Tôi cũng không lạm bàn những điều to tát mà chỉ ghi lại những cảm nhận về một Lệ Thu – người chị văn nghệ gần gũi của chúng tôi – qua những vần thơ trong phần MẸ CON của tuyển tập này.

*  *

*

Tôi nghĩ khi Lệ Thu viết lời tựa cho tuyển tập Điềm đạm Việt Nam, so sánh “Một Việt Nam như người mẹ ngàn đời lặng lẽ yêu thương, hy sinh và dung thứ” thì không chỉ là theo suy nghĩ cảm nhận chung của nhiều nhà thơ về Đất nước – Mẹ hiền, vì chị đã là người mẹ dấn thân vào khói lửa chiến tranh, nếm trải bao hạnh phúc – đau khổ, vui buồn cuộc sống bằng nỗi lòng người mẹ, nên trong bài thơ mở đầu, được lấy làm tên tuyển tập, chị cũng đã ký thác chút riêng tư của mình, rất điềm đạm Lệ Thu:

Câu ca dao tưởng chừng mong manh

Tà áo dài bay trong trang sử

Bao cuộc chia ly, bao mùa đoàn tụ

Đôi mắt dịu dàng – đôi mắt ngời đen

                                    (Điềm đạm Việt Nam)

            Người phụ nữ dịu dàng nhưng mạnh mẽ ấy có độ từng trải để hiểu thấu những giá trị thiêng liêng cần phải được giữ gìn,cần nhân lên thành sức mạnh giúp con người vượt qua giông bão, thử thách, chấp nhận đương đầu quyết liệt mà vẫn giữ trọn niềm tin vào những điều tốt đẹp của cuộc đời. Thơ chị phản chiếu con người chị: nhuần nhị trong cái bình dị lục bát ca dao, người phụ nữ ấy dám dấn thân góp một phần bé nhỏ vào trang sử dân tộc cả thời chiến lẫn thời bình, trải nghiệm những mất còn, chia ly – đoàn tụ với rất nhiều xúc động … mà vẫn nhìn cuộc sống dịu dàng với ánh mắt thiết tha “ngời đen” – đã yêu thì khó mà ghét, luôn tin vào sự thật, lẽ phải, trắng đen phải trái dứt dạc, nhưng dễ mềm lòng với bao nỗi đời, bao tình người nhân hậu…

MẸ CON ngỡ là chủ đề riêng tư, nhưng chị không chỉ viết cho mình, cho con, cho mẹ mà có những bài thơ Lệ Thu viết về những người mẹ đi qua chiến tranh, những khoảnh khắc chia ly – đoàn tụ, những tâm hồn bao dung nhân hậu…mà ở đó thấp thoáng một biểu tượng Người Mẹ. Đó cũng là dấu ấn của thi pháp sử thi đan xen với cảm hứng thế sự nhân sinh thường gặp trong thơ chị. Nhưng trên hết và trước hết chị vẫn là người mẹ luôn sống bằng tâm thức trăn trở trong tình mẫu tử. Tôi đã nhiều lần nghe và lần nào cũng xúc động với bài thơ Viết cho con trước khi nhà thơ vào chiến trường miền Nam. Cứ mỗi lần đọc lại bài thơ ấy,tôi lại thấy chị như sống dậy nỗi thương con xé lòng mà vẫn phải dứt áo ra đi, theo tiếng gọi quê hương và lý tưởng cứu nước cao cả thời bấy giờ. Bây giờ khó có bà mẹ nào viết cho con trai nhỏ mà lại dặn dò đủ điều, nói về những điều to tát như lý tưởng, dân tộc, những mơ ước gắn với tương lai đất nước như chị. Nhưng khi đã vào chiến trường, chị lại khát một lời ru để viết thành “Lời ru một thuở” (1973) thấm thía hơn, quay quắt một nỗi nhớ:

Nhớ con…ru gió, ru mây

Ru hoa, ru trái….suối đầy, mẹ ru

„Ru“ con, lại tiếng bom thù

Đêm đêm phia ấy

Mịt mù

Đêm đêm…

Trong 40 bài thơ ở phần MẸ CON, những gì riêng tư nhất của Lệ Thu cũng hòa điệu với không khí chung của thời đại, lịch sử, với những thăng trầm nhân thế. Kí ức chiến tranh luôn đọng nỗi đau mất mát đau thương nhưng chị luôn hướng tới những điều tốt đẹp, cao cả bằng niềm tự hào. Những vần thơ viết trong chiến tranh của Lệ Thu khiến tôi lại nhớ đến hình ảnh người bạn thân yêu của chị là nhà thơ – nhà báo Dương Thị Xuân Quý trong bài thơ nổi tiếng “Bài thơ về hạnh phúc“của Bùi Minh Quốc: “Nơi ngọn bút nghe cuộc đời thôi thúc – Và em gọi đó là hạnh phúc“. Chị may mắn hơn trở về sau chiến tranh, còn Dương Thị Xuân Quý “nằm lại với đất lành Duy Xuyên“ để mãi hơn 40 năm sau Lệ Thu bồi hồi tưởng nhớ:

Xưa mình hẹn nhau lên đường

gửi lại con thơ

ông bà nuôi trên đất Bắc

đêm chiến trường nhớ con trào nước mắt…

            (Bông trang trên mộ bạn – 2012)

Sự đồng cảm của những người mẹ vì nghĩa vụ thiêng liêng với đất nước mà phải xa con, cảm nhận nhũng thiệt thòi đến lúc ấy mới được thổ lộ với bao ray rứt. Còn hầu như nỗi buồn riêng ấy đã nén trong cảm xúc yêu thương – căm thù, soi chiếu qua ánh sáng lý tưởng để biến thành niềm vui, là niềm hạnh phúc được cống hiến. Về với quê hương Bình Định thời ấy, chị có niềm an ủi của một đứa con trở về quê mẹ, chiến đấu và sẵn sàng hy sinh cho đất mẹ thân yêu. Trong nỗi đau quê hương, có cả nỗi lo lắng thắt lòng khi má của chị – một cơ sở cách mạng cũng phải trải qua những ngày tù đày tra tấn. Nhưng cũng phải đến sau ngày thống nhất đất nước, chị mới có dịp bày tỏ tấm lòng của đứa con với má trong những bài thơ Đoàn tụ, Chiều Nha Trang, Khi tóc má bạc rồi. Có một mảng lớn những bài thơ viết về Mẹ và Con của Lệ Thu được dành cho những người mẹ, những người chị quê hương anh dũng, bằng sự trân trọng cảm phục và tôn vinh, tạc nên nhũng chân dung thời đại: một người chị ”làm mẹ khi chưa từng làm vợ” để nuôi những đứa con đồng đội (Người mẹ chưa một lần sinh nở), những Mẹ Việt Nam anh hùng mòn mỏi ”ngóng đợi con về dẫu chỉ là nắm đất” (Nhắn tìm.., Với mẹ anh hùng), nhớ những người mẹ  ”trong lửa đạn chiến tranh” đã ”đón tôi bằng tấm lòng của biển” (Trở về Phù Mỹ). Đan xen những cảm xúc riêng – chung luôn là sự hòa trộn của hai dòng cảm hứng sử thi và tiếng nói trữ tình tâm tình khó tách bạch.

* *

*

Viết về Mẹ và Con, Lệ Thu chọn khá nhiều bài viết sau ”đổi mới”, dường như cũng theo một quy luật vận động của thi ca nghiêng dần về cảm hứng thế sự nhân sinh. Thực ra, bằng trực giác của một người mẹ, bằng khao khát muốn bù đắp thiệt thòi cho con sau những năm tháng cách xa, chị cũng viết nhiều bài dặn dò riêng con với những lo toan thường trực trước cuộc sống biến đổi chóng mặt:

Má vẫn thầm ước mong

những người bạn tốt đừng qua đời

và kẻ xấu bớt sinh ra

để đường con đi dẫu chưa nhiều hoa

cũng đừng nhiều gai gốc

Má muốn dìu bước con qua nẻo ngoặt

muốn chắn mũi tên thù bắn lén phía sau lưng

muốn chân con đừng bước ngập ngừng…

                        (Năm mười tám tuổi của con – 1984)

Nghĩa là ngay từ thời điểm ấy, nhà thơ đã có cái nhìn bớt màu sắc lý tưởng hóa để đối diện với hiện thực khó phân định thật giả, sáng tối. Nên dễ hiểu vì sao Lệ Thu hay nghĩ về quan hệ đạo lý, hay khái quát lên giá trị của cái đẹp, cái thật…như một định hướng cho con vào đời thì chị đề cao sức mạnh tinh thần, vẻ đẹp tâm hồn Người Mẹ. Càng về sau, giọng thơ càng nhiều chiêm nghiệm lẽ đời hơn:

Cho con bếp lửa bình an

Mẹ xin làm một hòn than bé dần

Cho con giọt nước trong ngần

Lọc qua đời mẹ cát lầm gian truân

Cho con búp nụ mùa xuân

Mẹ là rễ dưới mấy tầng đất nâu

Đường đời vực thẳm sông sâu

Cho con nhân nghĩa – nhịp cầu mai sau!

                                    (Cho con)

Bên cạnh những niềm riêng là những nỗi đời và cả cái nhìn day dứt về chiến tranh ở góc bi kịch của nhũng người mẹ. Bên cạnh lòng tri ân những hy sinh cao cả, chị nhận ra nỗi đau tột cùng của người mẹ phát bệnh tâm thần vì tự tay: “giết tiếng khóc con” để cứu những dân lành – nhưng hồn mẹ cũng theo con… “bấy chừ đã chết”(Chuyện kể dưới chân Hòn Kẽm Đá Dừng) hay có khi chị “thác lời người mẹ có con nhiễm chất độc da cam” để cùng đau quặn trước bi kịch nạn nhân đi-ô-xin kẻ thù gieo rắc xuống mỗi gia đình (Mầm xanh của mẹ ở đâu). Cũng bằng tình cảm của một người mẹ, chị trải lòng cùng quê hương miền Trung bão lũ triền miên, mượn nỗi niềm của một Mẹ già trong lũ để gửi gắm điều lo lắng về sự vô cảm cứ lớn dần trong hiện tại:

Khi con về đã hết lụt, hết mưa

trời đất bình yên như chưa hề oan nghiệt

Khi trở về từ xứ người xa xôi

xin con đừng trách

Mẹ đã không ngăn được tất cả những gì

nhằm vào trái tim con…

                                    (Mẹ già trong lũ – 2013)

Tuy nhiều trăn trở, nhiều lo toan, ngẫm nghĩ về đổi thay thế sự, lắm khi mang theo cái cả nghĩ của người chạm ngưỡng “cổ lai hy”, thế nhưng đọc những bài thơ Lệ Thu khi bước vào thế kỷ XXI, vẫn nguyên vẹn ánh nhìn tin yêu cuộc sống với “đôi mắt dịu dàng – đôi mắt ngời đen” thuở thanh xuân đầy khát khao cống hiến có ích cho đời. Chị cảm nhận được niềm hạnh phúc của người mẹ được chăm chút, đền bù cho con những ngày vắng mẹ, nhưng hạnh phúc lớn hơn là con cái phương trưởng nên người, biết tự lập vững vàng trong cuộc sống. Trong thơ Lệ Thu, đã thấp thoáng những suy nghiệm lẽ đời tử sinh, nhưng giọng thơ nhắn gửi cho con, dặn dò cặn kẽ đạo lý làm người đầy trìu mến thương yêu dường như là món quà quý nhất làm hành trang cho con và cả cho cháu, nên không mang theo ám ảnh hư vô. Trong rất nhiều những câu thơ bài thơ mang đậm nỗi niềm riêng tư ấy, tôi muốn chọn những vần thơ này để hình dung trọn vẹn chân dung của nhà thơ – người mẹ Lệ Thu:

Bồi hồi đóa Dạ Lan Hương

Ngát thơm thức trọn đêm trường trắng hoa

Thẳm sâu ơi mỗi chiều tà

Yên lòng bởi biết mai là bình minh

                                    (Hoàng hôn – 2002)

Những vần thơ về tình cảm gia đình: mẹ con, bà cháu của Lệ Thu hòa quyện với bao cảm xúc riêng chung về quê hương, đất nước, nhân thế, bạn bè – đồng đội vẫn dịu dàng như đóa Dạ Lan Hương góp cho đời vẻ đẹp lặng thầm kín đáo. Làn hương ấy chắc chắn còn đọng rất lâu trong nhiều thế hệ độc giả yêu mến nhà thơ!

                                                            Quy Nhơn, tháng 9 năm 2014

                                                                        T.H.N

Quang Vĩnh Khương và “một giấc mơ buồn”

  • TRẦN HÀ NAM

(Bài đăng TC Văn nghệ Bình Định số 14 – tháng 6/2014)

            Cầm trên tay tập thơ – những nỗi đời chồng lấn lên nhau của Quang Vĩnh Khương được bạn bè tập hợp sắp xếp lại, tôi mường tượng lại hình ảnh của anh trong kí ức, qua những lần gặp gỡ hiếm hoi. Thật lạ là cứ nhớ vóc dáng lãng tử, áo trắng quần trắng đóng bộ sang trọng, với nụ cười khiến người ta dễ cảm ngay từ khi mới tiếp xúc. Con người ấy nổi tiếng tài hoa với những câu thơ thường chắt ra trong những cuộc chơi xả xác, những lăn lộn bươn chải cõi phù sinh… Người đã vẫy tay chào biệt cõi thế, chỉ còn thơ ở lại làm rơi nước mắt bạn bè:

Bây giờ cháo Lú, rượu Quên

tài cao phận thấp lênh đênh kiếp người

một ta nhỏ lệ làm lời

bốn hàng lục bát rối bời niềm đau

Khương khóc bạn văn đoản mệnh ngày nào, giờ có lẽ anh cũng chẳng nghĩ những câu thơ ngày ấy lại được bạn bè đọc lên để khóc anh! Nước mắt ngày ấy trong thơ Khương có lẽ nhiều lắm, thường là những giọt lệ thầm, như chàng Trương Chi “uống trăng rồi khóc trang thơ đời mình”. Tôi không thích nói nhiều hơn về nỗi đời quặn thắt ấy trong Khương, vì cách sắp xếp trình bày của bạn bè cho tập thơ của anh cũng quá đủ để hình dung trọn vẹn chân dung anh với nét hào hoa khinh bạc như các thi sĩ tiền bối thời hoàng kim của thơ. Chỉ xin được dừng lại với những tứ, những câu thật đẹp, thật xuất thần của Khương, để lòng mình chùng lại  cố nén tiếng thở dài cho một suy ngẫm về viễn cảnh thơ của tỉnh nhà còn lâu lắm mới có thể có được những lời những ý lấp lánh như thế! Liệu tôi có bi quan lắm không?

            Cuộc đời Quang Vĩnh Khương là những chuyến đi, có những lần hồi cố xứ ngỡ như anh sẽ thảnh thơi hòa mình cùng hương đồng gió nội, nhưng rồi thoắt một cái lại thấy anh lênh đênh phiêu dạt lúc Sài Gòn, lúc phố núi… Có một chút gì đó phẫn chí trong thơ Khương, qua những cuộc tình, qua những lời tự sám hối, tự dằn vặt mình. Thơ như thế, có bao giờ được đăng báo, được tán dương vì nó không gắn với hiện thực xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, không mang tâm thế công dân, không có tinh thần lạc quan cách mạng (!). Thơ như thế, chỉ ở trong tim bạn bè, chỉ ở những niềm cảm thông của những văn sĩ thi nhân vốn quen cái nghèo cái khổ như bạn đồng hành. Và ở lại đến giờ, đến chừng nào người ta vẫn có thể ngồi với nhau vì một câu thơ chứ không phân biệt sang hèn, vị thế xã hội hay tiền bạc (dù tiền luôn là niềm khao khát lớn nhất!).

Tôi thích sự nhạy cảm của Quang Vĩnh Khương trong “Những tuổi thơ buồn” – vì anh đã gửi vào đó có lẽ là niềm đồng cảm của chính anh, một bài thơ dám nói thẳng nói thật để chúng ta suy nghĩ và hành động cho các em chứ không phải những khẩu hiệu sáo rỗng:

Khi đói nghèo bất công nắm tuổi thơ đòi nợ

Đất nước này ngày mai sẽ ra sao?

            Quang Vĩnh Khương cũng đã từng đi qua một thời tuổi thơ có chiến tranh, ít nhiều cũng hằn trong kí ức những bóng hình thân yêu phải lo toan bươn chải, hồi hộp phập phồng vì “Chiến tranh mà…!”. Cùng dòng hoài niệm về quê ngoại với dòng Thu Bồn đắng đót một niềm thương là những hồi nhớ về cảnh phân li hai miền, là nỗi đau sinh li tử biệt. Lòng người khắc khoải theo tiếng cuốc kêu đêm mòn mỏi đợi chờ:

Tiếng cuốc đêm đến giờ còn rơi mãi

Ngày ông về ánh mắt đã xa xôi

Hai mươi mốt năm bình yên dạt bến khác

“Chiến tranh mà…” lời ngoại đắng trên môi

            Hoài niệm của những mất mát biệt li cứ thế nối dài đến hiện tại, để rồi chàng thi sĩ hào hoa phóng đãng này cũng nếm trải vị đắng trái đời, yêu thương li hận. Không biết những người con gái, những mồi tình si đi qua đời chàng có ai đến giờ vẫn còn vương vấn bóng người thi sĩ? Bụi bặm, phóng đãng, ẩu bưởng nhưng cũng rất nặng tình, nên Quang Vĩnh Khương chẳng ngại ngần gì không đem theo cái đa mang ấy vào thơ, trong những thời khắc suy nghiệm như một “kẻ tội đồ”:

đã rơi vỡ khuôn hình đêm chúa hiện

nên chẳng cần lời cầu nguyện đâu em

sống can đảm bền gan không hèn yếu

đào huyệt chôn mình rồi đạp mộ đứng lên

            Có lẽ  khi viết những câu thơ như vậy, Quang Vĩnh Khương cũng phải thật can đảm đối mặt với bao thị phi điều tiếng, để hạ một quyết tâm tìm bến đỗ bình yên. Bạn bè đã mừng biết bao khi chàng an cư, chỉ chờ chàng lạc nghiệp, vậy mà… Nhưng trong thơ, có lẽ khúc tạ từ của Quang Vĩnh Khương cũng đã vơi đi biết bao xót xa day dứt ngày cũ, để tìm được một cảm giác an nhiên:

Đừng day dứt, đừng đa mang

Nhập vai cứ diễn trọn màn phù sinh

là thi sĩ đang nhắn nhủ bạn đấy, còn anh, dẫu có chút cay đắng thì vẫn dứt khoát trong chọn lựa:

Hết rồi, Dương Lễ, Lưu Bình

Bá Nha đã bán đàn tình mua quan

Từ đây về đó võ vàng

Cùng rêu xanh phủ dặm đàng thiên di

            Tôi thấy có bóng Nguyễn Bính hào hiệp và khảng khái trong những câu thơ này, ở tinh thần “Những thằng bất nghĩa xin đừng đến – Hãy để thềm ta xanh sắc rêu”. Nhưng hỏi anh có đau không? Tôi nghĩ là có! Vì đàng sau những câu thơ ấy còn nguyên vẹn chuyện đời xưa gắn bó bạn bè làm nên nghĩa tri âm tri kỉ Lưu Bình – Dương Lễ, Bá Nha – Tử Kì…

            Quang Vĩnh Khương không bỏ bạn, và những bạn bè chí cốt cũng không bỏ anh, dù giận dù thương, dù gần dù xa thì trong những câu chuyện, trong những lời thơ vẫn hướng về nhau, nghĩ về nhau thật tha thiết. Thơ Khương dành tặng bạn cũng nhiều, có khi chỉ là bốn câu, hai câu mà khiến nhớ mãi. Những cuộc chơi của thời bụi bặm ai mà chả hùng tâm tráng chí, chả nỗi niềm rưng rưng, và thơ đến thật tự nhiên như một chia sẻ:

            Bạn tôi trọ trẹ miệt ngoài

            tha hương bật máu chông gai giữa đời

            dần sang cái tuổi bốn mươi

            xót mây tóc mẹ trắng trời quê xa

                                    (Khúc xa xứ)

            Có những câu, những tứ mới thành hình được bạn bè tập hợp thành chùm “Thơ hai câu” để phục dựng thành những khoảnh khắc tâm hồn Quang Vĩnh Khương trên những nẻo đời đắng đót: một lãng tử hào hoa bề ngoài mà bên trong là kẻ đa cảm đa sầu dễ mủi lòng thân phận. Tôi chợt nghĩ, nhiều bạn làm thơ bây giờ khi viết về thân phận hay cường điệu cảm xúc, học theo một giọng điệu một kiểu cách nào có sẵn, đọc lên khó mà cảm được. Còn Khương thì thật tự nhiên trong những câu thơ viết cho riêng mình, với ăn năn sám hối, với cảm động chân tình, với vui buồn bất chợt “một mình mình biết, một mình mình hay”, chẳng cần đắn đo cân nhắc thơ mình sẽ bị đặt lên bàn biên tập nên rất tự nhiên:

            Đêm vắt ra ngàn ngàn giọt nước mắt sao

            Em vắt vào ta nhiều hơn hạnh phúc

Và:

            Vòm lá xanh giấu lộc chìm vào đó

            Tôi giấu em vào nỗi nhớ không cùng

            Còn có thể nhặt nhạnh bao nhiêu vần tài hoa như thế sót lại trên hành trình rong ruổi của chàng thi sĩ tài hoa mệnh bạc này!

            Đọc Quang Vĩnh Khương, bình những câu thơ của người đã vùi chôn sân si thống hận, oan khổ lưu ly vào sâu ba tấc đất, lại cứ thấy ngùi ngùi nhớ một bóng hình năm cũ với nụ cười thật vô ưu trong những cuộc chơi ồn ào! Để rồi cứ nhớ, cứ thương những lời thơ rứt ruột:

            Anh lăn ra khỏi cuộc vui

            Nhìn em nở nụ cười tươi để mà

            Nửa hờn giận, nửa xót xa

            Nghe giông nghe bão đi qua đời mình

            Ừ, bây giờ giông bão đã thật sự đi qua, chỉ còn thơ ở lại, để Quang Vĩnh Khương lại được hồi sinh trong bao kỉ niệm với bạn bè. Mỗi bài thơ như một kí ức sống dậy trong lòng ta bóng hình người thơ năm cũ. “Trăm năm một giấc mơ buồn” như một ám ảnh, “khua sóng trong lòng” những người ở lại. Nhớ và thương!

                                                                                                Quy Nhơn, 18 – 24/6/2014

                                                                                                            T.H.N

Trịnh Hoài Linh – Ruộng và Làng

(Đọc Hương của Đất – tập thơ của Trịnh Hoài Linh, NXB Thời Đại, 2010)

Mẹ…

Ruộng…

Làng…

Trịnh Hoài Linh đã đem vào trong thơ tất cả cái chân chất của một nông dân thứ thiệt. Khi tập thơ của anh thấm đẫm một niềm thơm thảo chất bùn đất quê làng! Thú thật, dạo này tôi dị ứng khi nghe những danh xưng những mĩ từ mượn màu quê kiểng nhưng thực ra đó chỉ là thứ trang sức lòe người đánh bóng tên tuổi để tiện bề loi ngoi trong bả phù hoa danh lợi. Nên đọc thơ Trịnh Hoài Linh ít nhiều cũng có chút cảm giác e dè ấy. Mà cũng lạ, khi người ta nếm đủ mùi vinh hoa thì lại cứ thích về nép trong bóng quê làm dáng, như cái kiểu các ông vào hàng đặc sản gọi món rau muống xào tỏi để tỏ ra mình chưa quên gốc quê mùa. Thật may, thơ của Trịnh Hoài Linh là của một dân làm ruộng thứ thiệt, tay chân chai sần, nứt nẻ vì cắt lúa lội ruộng. Nên trước hết tôi tin anh nói thật, cái khó tìm ra trong thời buổi thiên hạ thích nói láo thích lòe đời. Mà cũng thật may khi lại không phải là cái thật thà như đếm có sao nói vậy để làm cho thơ trở thành dung tục sống sượng – cũng là một cách mà một số người ngộ nhận đó là dòng thơ dân gian, thực chất là tục tĩu hóa thơ.

Thơ Trịnh Hoài Linh có mỹ cảm, có thi pháp hẳn hoi. Thậm chí nếu như đưa vào một công trình luận văn kiểu tìm tính dân tộc trong thi pháp thơ đồng quê, e có khi liệt kê ra hàng đống không gian nghệ thuật làng quê, thời gian nghệ thuật hồi tưởng, tâm thức nông dân… trong gần 40 bài thơ của anh. Và nếu tán giỏi thì Trịnh Hoài Linh khéo trở thành một hiện tượng, một phát hiện của nền thơ trên đường về nguồn quê hương! Xin anh lượng thứ cho những lời của một kẻ cày-đường vốn không rành lắm về nông dân, nông thôn vì đã không hít thở hương đồng có dễ hơn ba chục năm như tôi. Nếu anh là kẻ háo danh thèm tiếng thì cứ coi như đây là sự giễu cợt ba trợn của một kẻ chẳng hiểu gì mà múa ba tấc lưỡi. Nhưng tôi nghĩ mình dám bạo miệng mà nói những điều ấy, bởi Trịnh Hoài Linh là người làm thơ có chất ở đất Bình Định này, và nếu anh có chút ngông, chút dấn thân thì biết đâu sau cái Đại hội nhà văn trẻ năm nào lâu lắc, giờ đây anh đã có hàng chục tập thơ và tiếng tăm như cồn trên văn đàn, nếu sang trọng nữa thì kiếm chút quan chức văn nghệ tỉnh nhà! Chứ có đâu về lại với luống cày, với đồng quê – với Làng, Ruộng và Mẹ – tảo tần hôm sớm cuộc đời để nguyện làm một “lão nông tri điền” thứ thiệt. Anh dại chăng? Hay anh “khôn nẻ vỏ”? Dại – khôn cũng nằm ở miệng người đời thôi. Còn tôi tin Trịnh Hoài Linh chưa hề toan tính điều này, cứ hồn nhiên làm thơ, hồn nhiên chơi với bạn bè văn nghệ đến mức bị lợi dụng thì cũng chỉ lắp bắp không tin nổi sao mình là thằng cày ruộng mà nỡ lòng cũng bị lôi vào cuộc thị phi! Có hề chi, anh vẫn cứ “dzìa dzí Hậu” theo cách nói đặc sệt chất An Nhơn của mình.

Không tin sao được, khi gặp những vần thơ hồn hậu về cánh chim, như thấp thoáng chất đồng dao – nhưng không phải đuổi chim mà lại là gọi chim về:

Đậu xuống sân nhà ta

Hỡi cánh chim tha hương

Lúa của ta đã vàng

Sông ta đầy nước ngọt

Chim tha hồ mà ăn

Chim thỏa thuê mà tắm…

(Cánh Chim)

“Đất lành chim đậu!”, Trịnh Hoài Linh đã mở đầu cho tập thơ của mình bằng những lời gọi chim, gọi thơ tung cánh trên cánh đồng làng hào phóng, trên mảnh đất mà anh dày công chăm xới, để thả sức thăng hoa hồn thơ khi mùa vàng đã tới. Ý tưởng thật ngộ nghĩnh nhưng cũng thật giản dị mộc mạc. Còn gì tha thiết và đáng quý bằng chính người nông dân nói về công việc của mình bằng thơ, để có cảm giác thư thái sau giờ phút đổ giọt mồ hôi thánh thót trên luống cày. Nên cũng dễ hiểu tại sao anh nói về quê hương bắt đầu bằng tình cảm tri ân sâu nặng, bắt đầu từ Người Mẹ:

Mẹ bỏ quên

Giọt mồ hôi trên đồng

Con cua cái ốc cho tôi cái chữ

Dảnh mạ quắt queo cho tôi rau cháo đỡ lòng.

(…)

Mẹ bỏ quên

Bỏ quên

Những điều tôi lại nhớ

Khói hương này xin dâng tạ mẹ tôi

(Mẹ bỏ quên)

Tôi thích những câu thơ không phải cố gắng lên giọng mà vẫn rõ mồn một là thơ của Trịnh Hoài Linh. Không cần phải giả vờ thành thật, không cần phải lên gân sám hối. Bóng bà, bóng mẹ, bóng chị… những người phụ nữ tảo tần cứ hiện lên những trang đời đắng đót trong thơ anh, chân thành như lời tâm tình gan ruột, được viết bằng sự hàm ân sâu xa:

Người đàn bà nhặt những hạt thóc

lẫn trong cỏ dại

như nhặt nỗi buồn của đất

chấp chới tuổi thơ tôi trang giấy ngày tựu trường

chữ o ngoằn ngoèo cũng từ quả cà

hạt thóc quả bưởi quả cau

lấp lánh giọt mồ hôi người mẹ…

(Người đàn bà nhặt thóc)

Triết lí về cuộc sống của Trịnh Hoài Linh cũng từ những mảnh đời gần gũi, từ làng từ ruộng mà thành hình. Cuộc sống hằn lên bao vết chân chim trên gương mặt, cũng hằn lên bao suy tư trăn trở về một làng quê luôn ám ảnh phận nghèo. Có lẽ nhiều người làm thơ về làng quê cũng có chung tâm trạng này, và đó cũng là thực trạng buồn khi làng quê Việt Nam qua bao đời rồi vẫn cứ đìu hiu nghèo khó buồn bã trong thơ. Nông dân thuần chất thì nghêu ngao đánh lừa cảm giác bằng cái kiểu “Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu thú lắm chứ…”; còn có chút chữ nghĩa có chút sĩ diện như Trịnh Hoài Linh lại thưởng thức cuộc sống theo hơi hướng người xưa – của những bậc hiền giả lánh đời. Có lúc học đòi Chống gậy trúc dạo chơi núi Bà, có lúc lại ngẫm ngợi Hương của đất:

Trở về đường đất ta thôi

Khói đồng mênh mang sương khói

Cơm hẩm dưa cà

Vỗ bụng hát

Thân phận con người hề

Bèo bọt phù vân…

Cái lối ca ngợi cuộc sống Hàn cư như thế, thực tình tôi không thích lắm, vì nó cũ. Và yếm thế! Giọng điệu ấy dễ lẫn lộn và cũng dễ bị những kẻ láu cá lợi dụng khen lao, ngâm nga để dễ dẫn dắt đến ngộ nhận ở con người vốn thiệt thà không nhiều tham vọng như Trịnh Hoài Linh.

Trong tập thơ có những bài anh thoát ra khỏi không gian làng, khi anh viết trong vai trò của một hội viên văn nghệ đi dự các trại sáng tác. Chẳng hạn những bài viết về Đà Lạt, hồ Xuân Hương, Vũng Tàu…nhưng đi đâu cũng về lại với làng quê, với những lo toan mưa nắng lam lũ của người miền Trung giữa vùng đất lạ:

Đêm Vũng Tàu tôi thức cùng những người đồng hương

(…)

Họ tựa vào nhau

trở về những căn phòng thuê chật chội

ẩm ướt khi gà vừa cất tiếng gáy

cuộc mưu sinh ngày mai còn lắm vất vả

Dải đất miền Trung như gương mặt nông dân

Người miền Trung cõng cái nghèo lưu lạc.

            (Thức cùng đồng hương)

Có lẽ vì thế cho nên với Trịnh Hoài Linh, làng vẫn là nơi tìm thấy chút yên bình để có thể “bắt đầu từ gốc rạ/tôi nhận ra tôi”, để Cuối năm uống rượu với bạn làm ruộng. Và trên hết, làng là nơi đón nhận những chân tình, là nơi bao người thân yêu cùng gắn bó sinh tử, là nơi kí thác nguyện ước tâm linh. Xin khép lại bài viết bằng bài thơ Về làng – theo tôi như mang trọn nỗi niềm của Trịnh Hoài Linh:

Về làng

Cúi lạy bờ tre

Rêu phong giếng lạn

Chợ quê trưa người

 

Về làng hầu chuyện rau khoai

Tóc quê lũ rối

Bời bời bão giông

 

Về làng

Vịn gốc nghĩa nhân

Mai sau con cháu

Vẫn còn chốn quê

 

Về làng cạn cốc rượu khê

Tỉnh say say tỉnh

Bên lề văn chương

 

Về làng còn có người dưng

Cho ta nắm đất

Nén hương bìa làng.

Tôi cũng nghĩ, chỉ có Làng mới thật sự đem lại cho Trịnh Hoài Linh một hồn thơ phong phú, để thơ anh có thể gặp gỡ với những hồn tri âm đồng điệu, ươm mầm cho những bài thơ mới của anh kết thành mùa thơ trĩu hạt.

                                                            Quy Nhơn, tháng 11 năm 2010

                                                                        Trần Hà Nam